Chào mừng quý vị đến với Website của Đoàn Kim Long.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY CHƯƠNG PHÂN SỐ _ LỚP 4

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Kim Long (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:37' 08-03-2009
Dung lượng: 113.5 KB
Số lượt tải: 234
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Kim Long (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:37' 08-03-2009
Dung lượng: 113.5 KB
Số lượt tải: 234
Số lượt thích:
0 người
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY CHƯƠNG PHÂN SỐ _ LỚP 4
I – ĐẶT VẤN ĐỀ :
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của GV và HS là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Toán được coi là trọng tâm và chiếm số tiết nhiều. Thông qua việc học Toán giúp HS nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung toán đã có những đổi mới về nội dung, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp HS phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với HS.
Để đạt được mục tiêu chương trình đã đề ra, GV phải nắm chắc mục tiêu, nội dung để khai thác trong từng bài. Điều quan trong là GV phải nghiên cứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đối tượng HS nhằm giúp HS tích cực trong hoạt động học tập, vận dụng được thành thạo những nội dung trong từng bài.
II – Giải quyết vấn đề :
Phương pháp dạy học bài mới :
GV là người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động học tập để giúp HS:
Khắc phục sự kémn khái quát, sự cứng nhắc của tư duy. Dựa vào tính trực quan cụ thể trong tư duy của HS, GV cần khai triển các hoạt động mang tính chất thực tiễn, HS phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó, các em sẽ tự phát hiện và giải quyết nhiệm vụ học bài.
VD: Khi dạy bài “So sánh 2 phân số cùng mẫu số”
Nhiệm vụ của bài là HS phải xem xét 2 phân số đó có bằng nhau hay không và nếu không bằng nhau thì phân số nào bé hơn, phân số nào lớn hơn.
Khi dạy bài này, tôi cho HS cắt 2 hình tròn bằng nhau. Mỗi hình tròn lại chia làm 8 phần bằng nhau bằng cách gấp hình tròn đó thành 4 phần khít nhau. Ơ hình tròn một, lấy hình tròn, ở hình tròn hai lấy hình tròn. HS sẽ gạch: Ở hình tròn một là 2 phần; ở hình tròn hai là 3 phần. Sau đó tôi cho các em so sánh các phần gạch chéo của 2 hình tròn. Qua phần so sánh, các em sẽ thấy: . Từ đó nêu được cách so sánh cơ bản (như quy tắc SGK).
Tự phát hiện kiến thức mới:
VD: Trong bài “Phép nhân phân số” (tiết 122)
Trước tiên tôi cho HS tìm hiểu ý nghĩa của phép nhân phân số thông
qua cách tính diện tích hình chữ nhật.
_ GV nêu: Tính diện tích hình chữ nhật có chiều dài 5m, chiều rộng 3m. Và HS nêu được S = 5 x 3 = 15m2
_ Tiếp theo GV nêu: Tính diện tích hình chữ nhật có chiều dài m, chiều rộng m. GV gợi ý để HS nêu được S =
_ Muốn thực hiện được phép nhân , GV cho HS quan sát trên hình vẽ:
1m
m
Nhìn hình vẽ, HS phải nêu được:
_ Hình vuông có S = 1m2
_ Hình vuông có 15 ô, mỗi ô có S = m2
_ Hình chữ nhật (phần tô màu) chiếm 8 ô. Do đó diện tích hình chữ nhật bằng m2 . Từ đó HS neu được (m2 ).
Từ nhận xét trên, GV hướng dẫn HS dựa vào VD để rút ra quy tắc nhân 2 phân số. GV lưu ý với HS: kết quả phép tính giải là phân số tối giản.
Sau khi HS đã biết cách nhân 2 phân số thì GV khích lệ HS thi đau học tập bằng cách tự cho VD về cách nhân 2 phân số và tự tìm lấy kết quả. Ngoài ra GV cho HS vận dụng cách tính để tìm chu vi, diện tích các hình đã học: hình bình hành, hình vuông, hình chữ nhật.
Quá trình dạy học toán như đã nêu ở trên sẽ giúp HS nắm chắc kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất, thông dụng nhất, hình thành phương pháp học tập (đặc biệt là phương pháp tự học), biết cách giải quyết vấn đề gần gũi với đời sống.
Thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới với kiến thức đã học:
VD: trong bài “Phép cộng phân số” tiết 114.
Ơ bài này, thông qua VD ở SGK, tôi và HS sẽ cùng thực hành trên băng
I – ĐẶT VẤN ĐỀ :
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của GV và HS là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Toán được coi là trọng tâm và chiếm số tiết nhiều. Thông qua việc học Toán giúp HS nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung toán đã có những đổi mới về nội dung, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp HS phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với HS.
Để đạt được mục tiêu chương trình đã đề ra, GV phải nắm chắc mục tiêu, nội dung để khai thác trong từng bài. Điều quan trong là GV phải nghiên cứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đối tượng HS nhằm giúp HS tích cực trong hoạt động học tập, vận dụng được thành thạo những nội dung trong từng bài.
II – Giải quyết vấn đề :
Phương pháp dạy học bài mới :
GV là người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động học tập để giúp HS:
Khắc phục sự kémn khái quát, sự cứng nhắc của tư duy. Dựa vào tính trực quan cụ thể trong tư duy của HS, GV cần khai triển các hoạt động mang tính chất thực tiễn, HS phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó, các em sẽ tự phát hiện và giải quyết nhiệm vụ học bài.
VD: Khi dạy bài “So sánh 2 phân số cùng mẫu số”
Nhiệm vụ của bài là HS phải xem xét 2 phân số đó có bằng nhau hay không và nếu không bằng nhau thì phân số nào bé hơn, phân số nào lớn hơn.
Khi dạy bài này, tôi cho HS cắt 2 hình tròn bằng nhau. Mỗi hình tròn lại chia làm 8 phần bằng nhau bằng cách gấp hình tròn đó thành 4 phần khít nhau. Ơ hình tròn một, lấy hình tròn, ở hình tròn hai lấy hình tròn. HS sẽ gạch: Ở hình tròn một là 2 phần; ở hình tròn hai là 3 phần. Sau đó tôi cho các em so sánh các phần gạch chéo của 2 hình tròn. Qua phần so sánh, các em sẽ thấy: . Từ đó nêu được cách so sánh cơ bản (như quy tắc SGK).
Tự phát hiện kiến thức mới:
VD: Trong bài “Phép nhân phân số” (tiết 122)
Trước tiên tôi cho HS tìm hiểu ý nghĩa của phép nhân phân số thông
qua cách tính diện tích hình chữ nhật.
_ GV nêu: Tính diện tích hình chữ nhật có chiều dài 5m, chiều rộng 3m. Và HS nêu được S = 5 x 3 = 15m2
_ Tiếp theo GV nêu: Tính diện tích hình chữ nhật có chiều dài m, chiều rộng m. GV gợi ý để HS nêu được S =
_ Muốn thực hiện được phép nhân , GV cho HS quan sát trên hình vẽ:
1m
m
Nhìn hình vẽ, HS phải nêu được:
_ Hình vuông có S = 1m2
_ Hình vuông có 15 ô, mỗi ô có S = m2
_ Hình chữ nhật (phần tô màu) chiếm 8 ô. Do đó diện tích hình chữ nhật bằng m2 . Từ đó HS neu được (m2 ).
Từ nhận xét trên, GV hướng dẫn HS dựa vào VD để rút ra quy tắc nhân 2 phân số. GV lưu ý với HS: kết quả phép tính giải là phân số tối giản.
Sau khi HS đã biết cách nhân 2 phân số thì GV khích lệ HS thi đau học tập bằng cách tự cho VD về cách nhân 2 phân số và tự tìm lấy kết quả. Ngoài ra GV cho HS vận dụng cách tính để tìm chu vi, diện tích các hình đã học: hình bình hành, hình vuông, hình chữ nhật.
Quá trình dạy học toán như đã nêu ở trên sẽ giúp HS nắm chắc kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất, thông dụng nhất, hình thành phương pháp học tập (đặc biệt là phương pháp tự học), biết cách giải quyết vấn đề gần gũi với đời sống.
Thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới với kiến thức đã học:
VD: trong bài “Phép cộng phân số” tiết 114.
Ơ bài này, thông qua VD ở SGK, tôi và HS sẽ cùng thực hành trên băng
 






Các ý kiến mới nhất